Ứng dụng cao lanh trong sợi thủy tinh
Sợi thủy tinh là một loại vật liệu dạng sợi mịn được làm từ cùng loại nguyên liệu thô dùng để sản xuất kính phẳng. Một loạt các loại được sản xuất, có thể được chia thành các loại gia cố, cách nhiệt và quang học. Sợi thủy tinh được đặc trưng bởi độ bền kéo và độ bền va đập cao, nhẹ, khả năng chống lại sự tấn công hóa học cao và nói chung là chi phí thấp. Những đặc tính này làm cho sợi thủy tinh phù hợp với rất nhiều ứng dụng gia cố trong nhựa và vật liệu tổng hợp. Vật liệu được gia cố bằng sợi thủy tinh được sử dụng trong các công trình dân dụng, thương mại, công nghiệp và nông nghiệp nội thất và ngoại thất, cũng như trong các ứng dụng giao thông và tiêu dùng. Vải sợi thủy tinh được sử dụng rộng rãi làm vật liệu xây dựng vì khả năng chống cháy.
Cao lanh chỉ được sử dụng trong sản xuất sợi thủy tinh gia cố, còn được gọi là sợi thủy tinh sợi liên tục hoặc loại dệt. Trong loại sợi thủy tinh này, trong một số trường hợp, cao lanh chiếm tới khoảng 29% trọng lượng của công thức mẻ. Các thành phần điển hình khác của sợi thủy tinh dệt là cát silic (29%), đá vôi (30%) và hợp chất boron (12%). Loại sợi thủy tinh này được dùng để tăng độ bền của nhựa, xi măng cao su và các vật liệu khác.
Một trong những ứng dụng quan trọng nhất của sợi thủy tinh dệt là nhựa gia cố, đặc biệt là nhựa polyester nhiệt rắn gia cố. Kể từ những năm 1950, sợi thủy tinh đã dần dần thay thế gỗ trong việc chế tạo vỏ tàu thuyền. Trong ngành công nghiệp ô tô, sợi thủy tinh đã được sử dụng trong khoảng thời gian tương tự, ban đầu để thay thế các tấm thân xe và các bộ phận kết cấu lớn tương tự. Trong những năm gần đây, các sản phẩm mới được gia cố bằng sợi thủy tinh đã được phát triển cho các bộ phận, chẳng hạn như bộ ly hợp trong ô tô.
Nhiều loại thủy tinh khác nhau có thể được sử dụng để sản xuất sợi thủy tinh dệt. Loại sợi thủy tinh dệt tiêu chuẩn là E-glass có sẵn dưới dạng sợi cắt nhỏ, thảm, sợi thô và các sản phẩm dệt. Sợi thủy tinh điện tử là dạng sợi thủy tinh được sản xuất phổ biến nhất nhưng dễ bị tấn công bởi axit khoáng loãng khiến nó không phù hợp với một số ứng dụng. Do đó, sợi thủy tinh C được sử dụng trong các vật liệu tổng hợp có khả năng tiếp xúc với axit và được sử dụng nhiều hơn trong việc gia cố tấm lợp bitum. Sợi thủy tinh S là sợi thủy tinh chuyên dụng được sử dụng trong các ứng dụng đòi hỏi độ bền cao. Dạng thủy tinh này đắt hơn đáng kể so với các loại khác được sử dụng làm sợi thủy tinh.
Sợi thủy tinh cách nhiệt (IGFG), còn được gọi là sợi thủy tinh cách nhiệt hoặc bông thủy tinh, chủ yếu được sử dụng để cách nhiệt các tòa nhà. Sợi thủy tinh cách nhiệt và dệt là những loại quan trọng nhất xét về số lượng sản xuất.
Sợi thủy tinh quang học được sản xuất với số lượng ít hơn nhiều nhưng có giá trị hơn nhiều so với hai dạng sợi thủy tinh chính còn lại. Sản xuất sợi quang ngày càng tăng do nhu cầu về cáp quang dùng trong viễn thông ngày càng tăng.
Các loại sợi thủy tinh khác bao gồm sợi thủy tinh D, M, L và AR. Sợi thủy tinh D chủ yếu được sử dụng trong lĩnh vực điện tử trong các ứng dụng như bảng mạch in vì tính kháng điện cao. Sợi thủy tinh AR được phát triển để sử dụng làm vật liệu gia cố cho xi măng. Loại sợi thủy tinh này có khả năng kháng kiềm tốt, độ bền tốt và cũng nhẹ hơn rất nhiều so với xi măng truyền thống. Ứng dụng chính là thay thế amiăng trong các sản phẩm xây dựng như tấm lợp. Sợi thủy tinh M có độ đàn hồi cao và sợi thủy tinh L có khả năng chống bức xạ khiến chúng hữu ích trong các ứng dụng chuyên dụng.
